“Tr.ùng t.ang” và những bí ẩn về ngôi chùa "nh.ốt tr.ùng" lớn nhất Việt Nam

“Tr.ùng t.ang” và những bí ẩn về ngôi chùa “nh.ốt tr.ùng” lớn nhất Việt Nam

Trong quan niệm phương Đông, “tr.ùng t.ang” được xem là hiện tượng mang đậm màu sắc tâm li.nh, thậm chí được thêu dệt đến mức thần bí.

Dân gian vẫn tin rằng, những gia đình không may mắn gặp phải th.ảm h.ọa “tr.ùng t.ang”, đặc biệt phải chứng kiến hàng loạt những cái “ch.ết tr.ùng” của người thân đều cảm thấy khiếp sợ và tìm mọi cách hóa giải.

Trong đó, “giải pháp” ưu tiên là gửi “v.ong” lên chùa để “nh.ốt” lại. Những ngôi chùa được chọn phải là ngôi chùa có uy tín và đặc biệt phải có những Hòa thượng cao tay.

Gốc tích ngôi chùa cổ

Chúng tôi tìm về chùa Hàm Long (ở xã Nam Sơn, H. Quế Võ, TP. Bắc Ninh) vào một ngày đầu hè nóng bức.

Chùa tọa lạc dưới chân núi Thần Long, trải qua gần nghìn năm với những đường nét rêu phong, cổ kính. Trong tiết trời lạnh giá, ngôi chùa cổ càng trở nên u tịch và bí ẩn.

Ý nghĩa Bông hồng cài áo trong mùa báo hiếu
Chùa Hải Đức: Kiến trúc độc đáo cùng câu chuyện kỳ lạ về người cha tiền kiếp
Phật dạy: 4 nỗi khổ lớn nhất của đời người, vượt qua được thì mới mong hậu vận an nhàn, hạnh phúc

Hôm nay, mặc dù là ngày giữa tuần nhưng khách thập phương khá đông. Khách tới chùa không phải để đi l.ễ hay vãn cảnh thư thái, hầu hết họ đeo khăn tang trắng hoặc trên áo gắn băng đen, khuôn mặt buồn rầu, mang theo những đồ l.ễ lạt, đến nhờ nhà chùa c.úng v.ong l.inh cho người q.uá c.ố.

Chị Hằng – một người bán hàng tạp hóa kiêm sắp l.ễ cho những ai có nhu cầu gửi v.ong lên chùa, ở ngay chân núi Thần Long, nói như học thuộc lòng: “Gia đình nào muốn gửi “v.ong” lên chùa Hàm Long phải hẹn ngày để chuẩn bị.

Khi người nhà mang “v.ong” đi cũng phải giữ bí mật, vì “v.ong ch.ết trùng” rất thiêng, nếu biết trước việc bị gửi lên chùa “v.ong” sẽ không đi theo. Tôi sắp l.ễ ở đây đã hơn 30 năm nên biết có nhiều gia đình không thể gửi “v.ong” được là do bị “lộ” thông tin.

Gửi “v.ong” xong, nhà sư sẽ “nhốt v.ong” lại trong chùa, và đúng 3 năm sau gia đình mới được phép đến để đón “v.ong” về”.

Thượng tọa Thích Nhật Từ: 'Cúng dường như ở chùa Ba Vàng là không phù hợp'
Những lời Phật dạy về chữ hiếu, con cái nhớ khắc cốt ghi tâm
Nhà có 4 thứ này là dấu hiệu của phúc - đức - lộc - phát, càng ở càng giàu

Phải gần cuối giờ chiều, chúng tôi mới may mắn gặp được Hòa thượng Thích Thanh Dũng, Phó thư ký thường trực Hội đồng chứng minh và Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Ông tiếp chuyện chúng tôi trong một gian phòng nhỏ yên tĩnh, ngay cạnh trai phòng lớn vang lên những tiếng mõ, tiếng đọc kinh… Hòa Thượng Thích Thanh Dũng cho biết “Thường vào khoảng 5h chiều là thời gian nhà chùa đọc kinh cầu s.iêu th.oát cho những “v.ong” được gửi tại đây”.

Chùa Hàm Long được xây dựng vào thời Lý (khoảng năm 1115). Tương truyền, đây là nơi tu hành của Thiền s.ư Dương Không Lộ.

Sách Việt Nam Phật giáo sử luận II (Hà Nội, 1994) có nói đến Thiền sư Như Trừng tự Lân Giác hiệu là Cứu Sinh, đệ t.ử của Thiền s.ư Chân Nguyên.

Ngài tu tại chùa Liên Tông (sau đổi là Liên Phái), Hà Nội. Ngài có lập thêm chùa Hộ Quốc (Thọ Xương) và chùa Hàm Long (Bắc Ninh).

Khái niệm “địa ngục” trong một số kinh sách Phật giáo
Ý nghĩa chắp tay trong nghi thức Phật giáo
Phước đức có bị hết hay không? Biết câu trả lời ta càng choáng váng về những việc mình đã làm

Trước khi mất, ngài đã chỉ định Thiền s.ư Tính Ngạn trụ trì chùa Hàm Long, Thiền s.ư Tính Dược trụ trì chùa Liên Tông, trung tâm của hệ phái do ngài thành lập.

Tại chùa Hàm Long sau khi sư tổ viên tịch đã để lại 2 ngọn tháp, ngọn tháp xây bằng gạch chứa xá lợi, còn ngọn tháp bằng đá cao nhất gọi là tháp tổ Như Trừng Lân Giác (Cứu Sinh), có chứa công phu tu tập cả đời của ngài.

Theo đó lúc sinh thời, s.ư tổ thấy chúng sinh quá lo sợ vì những cái ch.ết đột ngột và xảy ra liên tiếp trong những gia đình, dòng tộc; mà nay chúng ta vẫn thường gọi là “trùng t.ang”, ngài đã tạo ra kinh “thập nguyện” và bộ ván in khắc phù giải nhằm giúp cho các v.ong h.ồn được si.êu th.oát.

Chính bởi những bí mật cũng như những bài kinh của các vị s.ư tổ ở chùa Hàm Long nên theo khuyên nhủ của các bậc cao niên thì khi nhà có nhiều người “ch.ết trùng” hoặc có người ch.ết vào giờ xấu (tức là giờ trùng – PV), người nhà ngay lập tức phải gửi “v.ong” lên chùa.

Nếu theo tính toán mà “trùng nhẹ” thì có thể gửi “v.ong” lên bất cứ ngôi chùa nào, còn nếu “trùng nặng” thì buộc phải gửi “v.ong” lên chùa Hàm Long để được các vị Hòa thượng cao tay tụng kinh niệm phật giúp “v.ong” được siêu thoát.

Chia sẻ về việc ch.ết tr.ùng nhẹ hay trùng nặng, Hòa thượng Thích Thanh Dũng cho biết: “Theo tính toán thì người ch.ết thuộc quy luật sau thì là ch.ết “trùng nhẹ”: 1 nhập m.ộ, 2 thiên di, 1 trùng t.ang. Còn với những gia đình có người ch.ết theo quy luật: không có nhập m.ộ, 1 thiên di, 2 trùng t.ang tức là bị “trùng nặng”.

Nhà chùa không khuyến khích cái gọi là mê tín nhưng vì tín ngưỡng của chúng sinh, và đây lại làm cho chúng sinh an tâm về tâm lý khi người dân gửi “v.ong” lên chùa thì nhà chùa phải nhận làm.

Trùng t.ang kiếp n.ạn của con người?

Sinh, ly, t.ử, biệt luôn là quy luật tất yếu trong cuộc đời mỗi con người. Trong đó, vấn đề tâm linh xảy ra xung quanh những cái ch.ết theo quan niệm phương Đông luôn được dư luận quan tâm.

Nói về hiện tượng “trùng t.ang”, nhiều người còn khẳng định đã từng chứng kiến nhà có nhân đinh đông đúc đến 5 – 6 người nhưng chỉ vài ba năm lại phải chịu cảnh tuyệt tự.

Thực ra từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng t.ang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm.

Ngay cả Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này. Theo cách hiểu dân gian, “trùng t.ang” là trường hợp người ch.ết “phạm” phải năm, hoặc tháng, hoặc giờ xấu, do đó l.inh h.ồn không si.êu th.oát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có nơi cho là “â.m b.inh” – PV) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.

Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái ch.ết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng t.ang”.

Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người m.ất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng t.ang”.

Hòa thượng Thích Thanh Dũng cho rằng, “trùng t.ang” theo “Phật pháp bách vấn” thì đối với những người tuổi Thân, Tý, Thìn, nếu m.ất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ Tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng t.ang, còn được gọi là ngày “kiếp s.át”.

Tức là những tuổi đó là “kỵ Tỵ”. Mà đã “kỵ Tỵ” thì những người tuổi Thân, Tý, Thìn càng không được an t.áng vào ngày Tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi Dần, Tuất, Ngọ kỵ Hợi; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu kỵ Dần; Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân”.

Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng t.ang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ – PV) thì mới biết người quá cố có “trùng t.ang” hay không.

Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (â.m lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng t.ang”. Hoặc những người tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu m.ất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng t.ang”…

“Đối với Phật giáo thì sống ch.ết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Việc người “ch.ết trùng” và những đồn thổi xung quanh việc trùng t.ang vốn đã ăn sâu vào tâm thức mọi người.

Trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật t.ử không an t.áng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn t.ang lễ, đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho các hương linh”, Hòa thượng Thích Thanh Dũng chia sẻ.

Xem thêm:

Đạt Đỗ

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *