Những chặng đường phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Ngày 7/11/2021 tới đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tổ chức Đại lễ Kỷ niệm 40 năm thành lập (7/11/1981-7/11/2021). Trải qua chặng đường hình thành và phát triển, GHPGVN đã có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.


Toàn cảnh Đại lễ Vesak 2019. Ảnh: TV

Nhân kỷ niệm ngày thành lập GHPGVN, cùng điểm lại những dấu mốc quan trọng về  quá trình vận động, hình thành và phát triển của Giáo hội trong 40 năm qua.

Tinh thần Phật giáo nhập thế thời Trần

Sau hơn một ngàn năm kể từ khi du nhập, Phật giáo qua các giai đoạn vận động, đã trở thành tư tưởng chủ đạo đem lại nguồn sinh lực nuôi dưỡng ý thức độc lập tự chủ dân tộc.

Từ nền tảng Phật giáo quyền năng, dần dần tư tưởng căn bản của Phật giáo đã đi vào đời sống văn hóa, giáo dục, phát triển trở thành tư tưởng vị nhân sinh, gắn liền với yêu cầu cụ thể của lịch sử, tiếp sức sống mãnh liệt cho tinh thần quật cường của toàn dân trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, xây dựng đất nước thái bình.

Đỉnh cao của tinh thần đó là ở thời nhà Trần. Cũng chính trong giai đoạn này, Phật giáo lần đầu tiên có sự thống nhất, với danh xưng Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử do Trúc Lâm Đại đầu đà Trần Nhân Tông (1258-1308) chủ trương sáng lập.

Có bao nhiêu vị Phật, Bồ Tát?
Ở Việt Nam có một ngôi miếu ‘thoắt ẩn thoắt hiện‘, khách ghé thăm phải canh giờ
Nghi thức tụng kinh A Di Đà Việt nghĩa chuẩn nhất

Tượng Phật hoàng và tháp Trần Nhân Tông tại Yên Tử. Ảnh: TV

Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử thực sự là một tổ chức Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, dung hợp các dòng thiền hình thành trước đó cũng như đương thời.

Tư tưởng Phật giáo của Giáo hội thời bấy giờ được Điều ngự Giác hoàng thiết định là nền Phật giáo nhập thế, phục vụ dân tộc và xây dựng một xã hội lành mạnh theo nền tảng của mười thiện nghiệp – những nguyên tắc đạo đức căn bản của Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng ấy được thể hiện qua những tác phẩm quan trọng được lưu truyền cho đến ngày nay, đó là Ccư trần lạc đạo phú  đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, thiết thực hiện tại, gắn liền với việc cải thiện chất lượng sống, an sinh xã hội.

Với vai trò đặc biệt của Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, vị minh quân từ bỏ ngai vàng xuất gia trở thành thiền sư, việc thống nhất Phật giáo đã diễn ra một cách thuận lợi, như một tất yếu của lịch sử. Kết quả này được sự ngoại hộ của triều đình và được sự ủng hộ của quần chúng, đã phát triển dưới thời Thiền sư Pháp Loa (1284-1330), thành tựu nổi bật là xây dựng trung tâm đào tạo tăng tài tại chùa Quỳnh Lâm, thời bấy giờ.

Ngôi chùa lưu giữ mộc bản kinh Phật khắc trên gỗ thị cổ nhất thế giới
Người khai sinh mai táng “0 đồng”: Là một Phật tử, tu trong chính việc làm thiện nguyện của mình
Chùa Hoằng Phúc – ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất miền Trung

Tổng hội Phật giáo Việt Nam – Cuộc thống nhất Phật giáo lịch sử thứ hai

Cuối thời Trần, đất nước ta lại rơi vào hoàn cảnh bị phương Bắc xâm lăng, với chính sách khốc liệt, Phật giáo là một trong những đối tượng để nhà Minh nhắm vào trong mục đích hủy diệt văn hóa để đô hộ lâu dài.

Nạn phân hóa quyền lực dưới thời vua Lê – chúa Trịnh, rồi bị chia cắt Bắc, Trung, Nam dưới thời Pháp thuộc, nhân tâm loạn ly, Phật giáo cũng chung với số phận của dân tộc, như các nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định, tình hình “không mấy sáng sủa”, nếu không nói là suy thoái.

Nửa đầu thế kỷ XX, một số vị cao tăng trăn trở với tiền đồ của đạo pháp, nổi bật trong đó là Tổ Khánh Hòa (1877-1947) đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, xuất phát từ miền Nam, sau đó lan rộng ra miền Bắc và miền Trung. Trong làn sóng chấn hưng đó, nhiều hội đoàn Phật giáo được thành lập ở cả ba miền.

Tuy cũng có danh xưng Phật giáo, nhưng do sự khác biệt hoàn cảnh và quan điểm, các hội đoàn thời bấy giờ không có sự gắn kết trong một đường hướng chung. Ý thức được điều đó, chư tôn đức giáo phẩm, các vị cư sĩ Phật giáo uy tín đã vận động đi đến sự thống nhất lần thứ hai trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, qua hội nghị của đại biểu sáu tập đoàn Phật giáo ở miền Nam, miền Trung và miền Bắc tổ chức tại chùa Từ Đàm (Thuận Hóa, nay là Thừa Thiên Huế) năm 1951, thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam (gọi tắt là Tổng hội), suy tôn Trưởng lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1891-1973) làm Hội chủ.

Tổng hội ra đời đáp ứng được nguyện vọng của tín đồ Phật giáo thời bấy giờ, những ao ước từ 20 năm trước đó về một nền Phật giáo Việt Nam thống nhất trên toàn quốc.

Tổng hội đã suy tôn Hội chủ và Ban Quản trị, các phát ngôn viên ở ba miền là chư tôn đức giáo phẩm có uy tín ở các tập đoàn Phật giáo tại ba miền, ra Bản Tuyên ngôn bày tỏ ý chí về một đường lối chung trong tinh thần cởi mở và phương tiện của Phật giáo Đại thừa. Để thể hiện đường lối đó, Tổng hội chủ trương thành lập cơ quan ngôn luận là Tạp chí Phật giáo Việt Nam.

“Quan Âm Bồ Tát” của Tây Du Ký 1986: Sống an yên, độc thân ở tuổi U80
Thầy tử vi bật mí: 3 con giáp vướng sao xấu, hạn chế đầu tư làm ăn kẻo dễ bị lừa gạt
Thực hư chuyện 2 đứa trẻ nhớ được tiền kiếp của mình ở Phú Thọ

Về cơ bản, cơ chế Tổng hội tuy thống nhất nhưng sáu tập đoàn Phật giáo thành viên vẫn sinh hoạt tương đối độc lập, vai trò của Tổng hội thiên về đối ngoại các tổ chức Phật giáo trên thế giới. Với cơ chế đó, Tổng hội đã phát huy sức mạnh liên kết, linh hoạt vận động và tạo được sức mạnh tổng hợp, thành lập được các trung tâm đào tạo tăng tài, hệ thống các Phật học viện, đặc biệt là lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963, tạo nên những dấu ấn lịch sử không chỉ đối với Phật giáo mà cả với dân tộc và thế giới.

 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu bản thân trên đường phố Sài Gòn vào ngày 11/6/1963 để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Ảnh: VOV

Sau Hiệp định Geneve, năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt hai miền, ranh giới là vĩ tuyến 17. Danh nghĩa Tổng hội theo đó cũng không còn trọn vẹn, chỉ hoạt động trên nửa phần đất nước, đó là chưa kể đến những sứt mẻ cũng như sự can thiệp trong ý đồ phân hóa từ các thế lực khác không muốn Phật giáo hoạt động hiệu quả.

Song song đó, từ năm 1960, tại miền Bắc, tăng ni Phật tử tại các vùng giải phóng và các vùng tạm chiếm cũ đã tập hợp dưới một tổ chức chung gọi là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam do Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Độ làm Hội trưởng.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Trong tình hình mới, ngày cuối năm 1963, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, 6 tập đoàn cũ thuộc Tổng hội cùng với 5 tổ chức, tông phái Phật giáo thời bấy giờ đã nhóm họp tại chùa Xá Lợi – Sài Gòn, sau những thảo luận đã cùng đi đến nhất trí quyết nghị thống nhất dưới một tổ chức duy nhất là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam, ngày 3/1/1957. Ảnh: TTXVN

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thực hiện nghi lễ tắm Phật tại Đại lễ Vesak năm 2019. Ảnh: TV

 Chủ tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận nhữngđóng góp to lớn của GHPGVN trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021. Ảnh: T.V

Cơ cấu lãnh đạo của GHPGVNTN gồm có hai viện, đó là Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo. Giáo hội cũng đã công bố Hiến chương và chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo hai viện vào ngày 4/1/1964. Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn làm Tăng thống; Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Châu được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo đầu tiên.

GHPGVNTN ra đời được xem là bước tiến, xóa bỏ tính biệt lập các tập đoàn trong cơ chế Tổng hội, đồng thời mở rộng các hệ phái, truyền thống Phật giáo mà trước đó chưa hiện diện trong Tổng hội, như Phật giáo Nam tông.

GHPGVNTN đặt trụ sở ban đầu tại chùa Ấn Quang. Lãnh đạo tinh thần tối cao là Viện Tăng thống, đứng đầu là Đức Tăng thống. Điều hành mọi hoạt động Phật sự là Viện Hóa đạo với hệ thống các Tổng vụ, chuyên trách từng lĩnh vực như Giáo dục, Hoằng pháp, Văn hóa, Thanh niên, Tài chính, Kiến thiết…

GHPGVNTN ngay từ lúc thành lập đã tạo nên niềm phấn khởi cho tăng ni, tín đồ và thành tựu nhiều Phật sự, nổi bật với Viện Đại học Vạn Hạnh, tiếp tục duy trì và phát triển các Phật học viện, dấn thân vào lĩnh vực giáo dục tư thục, y tế cộng đồng, công tác xã hội… Sự thống nhất này là một dấu son trên con đường vận động thống nhất của Phật giáo Việt Nam, đem đến nhiều hoạt động hiệu quả, nhưng cũng chưa trọn vẹn, vì chỉ hoạt động tại miền Nam và chỉ trong những vùng chưa được giải phóng.

Sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), GHPGVNTN vẫn được duy trì hoạt động, cùng với các tổ chức Giáo hội tại miền Bắc cho đến lúc tham dự vào ngôi nhà GHPGVN được thành lập (1981), thực sự thống nhất toàn quốc.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào ngày 7/11/1981 tại Hà Nội, là kết tinh trí tuệ và nguyện vọng của tăng ni, Phật tử Việt Nam sau thời gian vận động thống nhất các tổ chức, hệ phái trong cả nước.

Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc xây dựng đất nước cũng như chống ngoại xâm. Truyền thống đó được tiếp nối qua các thời đại, tô bồi cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Tăng, ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội kế thừa và phát huy các giá trị của Phật giáo trong suốt chặng đường hình thành phát triển. Ảnh: T.V

Với tinh thần khế cơ khế lý, Phật giáo cũng có những vận động, chuyển mình đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Trong quá trình phát triển đó không thể quên những dấu ấn thống nhất Phật giáo như những dấu son trong trang sử của Phật giáo Việt Nam.

Hiến chương GHPGVN khẳng định: Trong hơn hai ngàn năm hiện diện trên đất nước Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc, đạo Phật đã trở thành tôn giáo của dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là thành viên tin cậy và vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *