Lễ Bố tát: Nguồn gốc ngày Sóc và Vọng trong Phật giáo - Thích Trung Định

Lễ Bố tát: Nguồn gốc ngày Sóc và Vọng trong Phật giáo – Thích Trung Định

Lễ Bố tát thường được tổ chức vào những ngày định kỳ của một nửa tháng, gọi là ngày Sóc và Vọng, (mười bốn mười lăm ngày hoặc ba mươi, mồng một trong mỗi tháng, tùy thuộc vào thời điểm chính xác của mặt trăng mới và đầy đủ của hai tuần trăng).

Bố tát là dịch âm từ tiếng Phạn là ‘Posatha’. Từ này là một dạng hỗn chủng của tiếng Sanskrit Phật Giáo, mà tiếng Pāli đọc là Uposatha, và tiếng Sanskrit tiêu chuẩn gọi là Upavasatha. Thuật ngữ Posatha có nghĩa là nuôi lớn và duy trì. Trung Hoa dịch ý là trưởng tịnh, trưởng dưỡng, tăng trưởng, thiện túc, tịnh trụ, trưởng trụ, cận trụ, cộng trụ, đoạn, xả.

Duyên khởi

Khi Đức Phật trú tại thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà, tại đây có các nhóm Phạm Chí ngoại đạo cùng nhau tập họp về một chỗ để giảng đạo và thọ dụng sự cúng dường của các đệ tử tại gia. Họ sinh hoạt trong những ngày ấy rất thân mật, dân chúng đi đến để nghe pháp, họ có niềm tin và có lòng mến mộ.

Vua Bimbisara của xứ Ma Kiệt Đà thấy các nhóm ngoại đạo sinh hoạt như vậy bèn nghĩ rằng, nếu chúng Tỷ kheo đệ tử Phật cũng tụ họp như vậy thì phúc lạc cho những người Phật tử tại gia biết bao! Sau đó nhà vua đã ngự đến chỗ Phật đang cư trú, trình bày suy nghĩ của mình, “Bạch ngài, hiện nay các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào các ngày mười bốn, mười lăm và vào ngày thứ tám của mỗi nữa tháng.

Dân chúng đi đến nghe pháp, và họ có lòng tin và mến mộ…hay là các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào những ngày như vậy vào mỗi nữa tháng?” Nhận thấy nhân duyên hội đủ, Đức Phật đã chấp nhận sự đề nghị đó và dạy rằng: ‘này các Tỷ kheo, ta cho phép tụ hội vào các ngày mười bốn, mười lăm và vào ngày thứ tám của mỗi nữa tháng để thực hành lễ Bố tát.”[1] Từ đó về sau, truyền thống lễ Bố tát (Uposatha) được diễn ra điều đặn trong tăng chúng đệ tử Phật qua nhiều thế hệ.

Muốn phát tài hãy tránh 6 nghiệp gây tổn tài theo Phật dạy
Người lính nhận đỡ đầu 3 anh em mồ côi vì Covid-19, hạnh phúc vì không đơn độc
Vì sao Phật Tổ Như Lai có sức mạnh phi thường, cảm hóa chúng sinh?

Ý nghĩa thuật ngữ

Bố tát là dịch âm từ tiếng Phạn là ‘Posatha’. Từ này là một dạng hỗn chủng của tiếng Sanskrit Phật Giáo, mà tiếng Pāli đọc là Uposatha, và tiếng Sanskrit tiêu chuẩn gọi là Upavasatha. Thuật ngữ Posatha có nghĩa là nuôi lớn và duy trì. Trung Hoa dịch ý là trưởng tịnh, trưởng dưỡng, tăng trưởng, thiện túc, tịnh trụ, trưởng trụ, cận trụ, cộng trụ, đoạn, xả.

Tức ý nói là nuôi lớn sự thanh tịnh hay duy trì các thiện pháp. Nó cũng được dịch là hướng với nhau để nói tội, tức trong mỗi nữa tháng thuyết giới hỏi sự thanh tịnh nhau vậy. Như vậy, Bố Tát là ngày định kỳ thuyết giới, cùng nhắc nhở nhau về giới pháp của hành giả tu hành, nhằm nuôi lớn các thiện pháp, giới thân huệ mạng khiến chúng trưởng thành trong sự thanh tịnh, hầu duy trì và phát triển sinh mệnh của Tăng đoàn trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh.

Nội dung của lễ bố tát

Ban đầu, đức Phật chỉ cho phép chư vị Tỷ kheo tụ họp vào các mười bốn, mười lăm và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, nhưng vẫn chưa quy định nội dung thực hiện nghi lễ này. Do vậy, khi chư Tăng tập trung lại với nhau chỉ ngồi im lặng. Dân chúng đi đến nghe pháp thấy chư tăng ngồi im lặng như vậy nên phàn nàn, chê bai rằng: “Tại sao các sa môn Thích Tử sau khi hội tụ vào ngày mười bốn, mười lăm và vào ngày thứ tám của mỗi nữa tháng lại ngồi im lặng giống như các con heo đần độn vậy?

Lời Phật dạy về kết thiện duyên: Lý giải vì sao có người đi đâu cũng có quý nhân
5 cách tiêu giải nghiệp chướng, thoát khỏi ai oán theo lời Phật dạy
Ngỡ ngàng lý do Đức Phật im lặng 7 tuần sau khi thành đạo

Sao các vị đã hội tụ lại mà không chịu thuyết pháp? Các Tỷ kheo nghe được những lời phàn nàn chỉ trích như vậy liền trình sự việc đó lên Đức Thế Tôn, nhân sự kiện này đức Phật dạy: “Này các Tỷ kheo, ta cho phép giảng pháp sau khi hội tụ lại vào các ngày lễ của mỗi nữa tháng.”[2] Rồi sau đó đức Phật suy tầm và sanh khởi ý nghĩ rằng Ta nên cho phép các vị Tỷ kheo đọc tụng giới bổn Ba la đề mộc xoa (Pātimokkha), gồm các điều học đã được quy định cho các Tỷ kheo, việc ấy sẽ là hành sự Uposatha cho các vị ấy.

Cúng rằm tháng 7 tại gia

Lễ Bố tát thường được tổ chức vào những ngày định kỳ của một nửa tháng, gọi là ngày Sóc và Vọng, (mười bốn mười lăm ngày hoặc ba mươi, mồng một trong mỗi tháng, tùy thuộc vào thời điểm chính xác của mặt trăng mới và đầy đủ của hai tuần trăng). Nhân duyên Phật quy định như vậy là vì, khi đức Phật cho phép đọc tụng giới bổn, nhiều vị Tỷ kheo khởi lên ý nghĩ rằng, hay ta nên đọc tụng giới bổn vào mỗi ngày…vào ba lần trong nữa tháng.

Đức Phật quy định, không nên tụng đọc giới bổn trong mỗi ngày…và ba lần trong nữa tháng, vị nào tụng thì phạm tội dukkata. “Này các tỷ kheo, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha một lần vào ngày mười bốn hoặc ngày mười lăm của nữa tháng.[3]

Để lễ Bố tát của chư tăng được trang nghiêm thanh tịnh, nơi diễn ra lễ bố tát phải được lau chùi quét dọn sạch sẻ tươm tất, thắp hương đèn và trải các tọa cụ sẵn sàng… Đức Phật cũng cho phép tất cả Tỷ kheo đều học cách tính toán ngày của nửa tháng. Trong khi thực hiện lễ Bố tát chư tăng nên kiểm tăng bằng cách gọi tên, hoặc là cho rút thẻ.

Ấn định ranh giới

Đức Phật cũng quy định không nên tụng giới bổn Pātimokkha theo tập thể riêng của mình mà hành sự lễ Bố tát phải hợp nhất, tức sự hợp nhất trong một trú xứ. Tuy nhiên phạm vi của một trú xứ là đến tận đâu? Sự việc này cũng nảy sinh một vài lúng túng của chư vị Tỷ kheo. Do đó, ngài cho phép ấn định ranh giới: “Trước tiên, các điểm mốc cần được định danh: điểm mốc là ngọn núi, tảng đá, khu rừng, cội cây, đường đi, gò mối, con sông, vũng nước. Sau khi định danh các điểm mốc, thì hội chúng nên thông báo cho vị trưởng lão Tỷ kheo và đại chúng để tác thành yết ma.

Ý nghĩa 6 chữ Om Mani Padme Hum
Người thường hay chia sẻ Phật Pháp cho nhiều người biết được phước báu gì?
Bố bé 8 tuổi về nhà cha mẹ đẻ ở, nhiều người mang hương hoa di ảnh đến tận nhà

Tâm hương không nằm ở số lượng nén hương

Tuy nhiên khi chọn điểm mốc cho trú xứ thì không nên quá bốn, năm hoặc sáu do tuần, ranh giới không nên vượt qua bờ bên kia dòng sông nếu không có thuyền bè và các phương tiện qua sông. Trong trường hợp có nhiều trú xứ cùng chung ranh giới thì nơi nào có vị trưởng lão Tỷ kheo cư ngụ thì nên tụ hội nơi ấy để thực hiện lễ Uposatha. Ngày nay, chúng ta có thể quy định theo từng địa phương như tỉnh, thành phố, quận, huyện …để làm trú xứ cho việc hành lễ bố tát một cách thuận tiện dễ dàng.

Chỉ định nhà hành lễ Bố tát

Khi trú xứ và ranh giới đã được quy định, lễ Bố tát sẽ được tổ chức tại một tu viện trung tâm của trú xứ đó, và chỉ có một tòa nhà (chánh điện) có thể được ủy quyền như hội trường làm lễ Bố tát. Nếu tu viện hay hội trường đó không sử dụng được, việc uỷ quyền có thể bị thu hồi và hội trường khác có thẩm quyền được chọn.

Buồn cùng nỗi buồn của người khác, ấy là Bi

Nếu phòng quá nhỏ cho số lượng các Tỳ kheo, người tham dự lễ có thể thể ngồi bên ngoài xung quanh hội trường miễn sao họ đang ở trong tầm nghe của việc đọc giới bổn Patimokkha. Theo luật định, trong một trú xứ thì chỉ có một nhà hành lễ bố tát duy nhất. Trong ngôi nhà hay chánh điện thì chư vị Trưởng lão Tỷ kheo được ngồi trước và sau đó tuần tự theo giới lạp để sắp xếp chỗ ngồi cho phù hợp.

Xem thêm:

Mùng 1 đầu tháng, ngẫm về chuyện dâng hương cúng Phật nên thắp nhiều hay ít

 

Thích Trung Định

Ghi chú:

[1] Mahāvaggapāli, Pathamo Bhāgo,  Đại Phẩm tập 1, Buddhist Cultural Centre, Sri Lanka, 2009, p. 249.

[2] Sđd, tr. 251.

[3] Sđd. tr. 255.

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *