7 tư thế tay tượng Phật và ý nghĩa đặc biệt đằng sau từng loại thủ ấn Phật

Bạn có lòng say mê tìm hiểu Phật giáo nhưng đã bao giờ bạn tìm hiểu ý nghĩa các tư thế tay tượng Phật hay biết chúng có tên gọi là thủ ấn Phật (hay còn gọi là Mudra trong tiếng Phạn)?

Thủ ấn – Mudra hay còn gọi là ấn tướng, ấn thủ, thủ ấn Phật là dấu ẩn thể hiện hoặc khắc họa tư thế tay đặc biệt (thường là bàn tay và ngón tay).

Thủ ấn còn được hiểu là các tư thế chính mà Phật dùng trong đời sống hằng ngày, thuần túy là các tư thế của Phật. Thủ ấn được dùng để miêu tả, trình bày hình tượng, tranh ảnh Đức Phật.

Theo truyền thống Vệ đà, các ngón tay của bàn tay đại diện cho năm yếu tố cơ bản tạo nên cơ thể con người: đất, nước, gió, không khí và lửa. Nghĩa là những đầu ngón tay của chúng ta đều mang năng lượng và khi chạm chúng lại vào nhau theo những cách khác nhau hoặc đến các bộ phận khác của lòng bàn tay sẽ điều chỉnh và cân bằng dòng năng lượng (Prana) trong cơ thể chúng ta, và năng lượng truyền qua các dây thần kinh kích thích các luân xa khác nhau.

Trong Phật giáo đại thừa, ý nghĩa các tư thế tay tượng Phật hay còn được gọi là các thủ ấn chỉ các ấn nơi tay, mỗi thủ ấn đều tương ứng với các ý nghĩa đặc biệt:

1. Giáo hóa thủ ấn (Vitarka Mudra)

ý nghĩa các tư thế tay tượng Phật - giáp hóa thủ ấn

Tạo vườn tiểu cảnh tượng Phật trên sân thượng ngôi nhà ở Sài Gòn
Gia đình có 4 bảo vật này thì không hưng thịnh cũng phú quý
Hết năm là hết khổ, 3 con giáp cát tinh chiếu mệnh, cầu gì được nấy trong năm Nhâm Dần 2022

– Tư thế tay: Trong giáo hóa thủ ấn còn có tên gọi khác là Hiệp chưởng ấn, đầu ngón tay cái và ngón trỏ ở bàn tay phải đức Phật chạm vào nhau và tạo thành một vòng tròn. Các ngón còn lại hướng lên trên còn bàn tay trái thì để ngang bụng.

Vòng tròn này tượng trưng cho một dòng năng lượng và thông tin liên tục. Khi người đi thuyết giảng, người đã dùng thủ ấn này, như là kêu gọi chúng sinh hãy giải quyết mọi chuyện thông qua tư duy và biện luận thay vì những xúc cảm nhất thời.

– Ý nghĩa: Vitarka tượng trưng cho giai đoạn thuyết giảng trong cuộc đời của Đức Phật và vòng tròn tượng trưng cho một dòng năng lượng và thông tin tiếp nối liên tục, không có đứt đoạn.

Ấn quyết này cũng còn đuợc gọi biện minh ấn vì đây được xem như Đức Phật đang kêu gọi mọi người hãy giải quyết các vấn đề thông qua tư duy và biện luận. Đức Phật đã dùng ấn quyết này suốt giai đoạn thuyết giảng trong cuộc đời của ngài.

Theo quan niệm của người Ấn Độ cổ đại, tay phải là tay dành cho thần thánh nhằm thể hiện sự trong sạch và linh thiêng; tay trái thì lại đại diện cho những nhiễm ô trần tục. Vì vậy, khi hai tay chắp vào nhau tượng trưng cho sự hợp nhất giữa sự thánh thiện và nhiễm ô, hai mặt tuy đối lập nhưng lại dung hòa giữa thần thánh và trần tục.

2. Trì bình thủ ấn (Patahattha Mudra)

Có đức mặc sức mà ăn: 3 con giáp càng hiền lành càng giàu sang
Văn Thù Bồ Tát - bậc Đại Trí dùng trí tuệ dẫn đường chúng sinh
Tại sao Thiên Bồng Nguyên Soái đầu thai thành lợn, hóa thân thành Trư Bát Giới?

Trì bình thủ ấn

– Tư thế tay: Vị trí hai bàn tay cùng nâng bình bát, khi đó hai tay chồng lên nhau tay phải để trên tay trái, các ngón tay duỗi ra để đón và giữ lấy chiếc bát.

– Ý nghĩa: Thủ ấn này mô tả về đời sống thường nhật của Đức Phật khi còn tại thế được chia làm năm thời: buổi sáng, buổi trưa, canh đầu, canh giữa và canh cuối. Buổi sáng là thời điểm ngài trì bình hóa duyên tế độ những người hữu duyên và thị thực.

Ngày nay, đây là tư thế thủ ấn trì bình mà các nhà nghệ thuật điêu khắc sử dụng để mô tả về đời sống thường nhật của Ngài.

3. Tư thế Thiền thủ ấn (Dhyana Mudra)

Thiền thủ ấn

Khi chưa tìm hiểu về ý nghĩa các tư thế tay tượng Phật có thể bạn bắt gặp hình ảnh về cách để tay này nhiều nhất:

Vì sao Đức Phật nhập mẫu thai trong hình tướng voi trắng?
3 món nợ từ kiếp trước mà vợ chồng sẽ phải trả hết ở kiếp hiện tại
Đại Bi chú tiếng Việt chuẩn nhất và ý nghĩa 84 câu chú

– Tư thế tay: Đức Phật ngồi xếp bằng, hai tay đặt trước bụng, ngón tay duỗi thẳng, những ngón tay trái đặt trên những ngón tay mặt, hai ngón cái chạm nhau, gan bàn tay ngửa lên trên, có khi bắt chéo thành góc 45 độ.

– Ý nghĩa: Thủ ấn này là biểu tượng của Thiền, tượng trưng cho trí tuệ, muốn nói đến tâm thức giác ngộ vượt lên khỏi thế giới hiện tượng. Đây là tư thế khi thực hành một thăng bằng hoàn hảo giữa suy nghĩ, bình tâm, thư thái trong những tác động tập trung tư tưởng.

Đây là thủ ấn được Đức Phật sử dụng lần cuối cùng thiền dưới gốc cây bồ đề khi Ngài đã đạt được giác ngộ. Ngài tập trung thiền định sâu tìm nguồn gốc sự đau khổ trên đời và phương cách chấm dứt.

4. Thí nguyện thủ ấn (Varada Mudra)

Thí nguyện thủ ấn

– Tư thế tay: Cánh tay phải của tượng Phật thả lỏng dọc theo cơ thể, lòng bàn tay mở và hướng ra phía trước, duỗi dài những ngón tay ra. Ấn được thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay của tay trái thì cong lại ở vị trí khuỷu tay, bàn tay hướng về phía người nhìn. Ấn này giống với vô úy ấn nhưng hai định hướng bàn tay khác nhau.

Năm ngón tay mở rộng ra, điều này đại diện cho 5 sự hoàn hảo của người đắc đạo: Hào phóng, đạo đức, kiên nhẫn, nỗ lực và tập trung.

– Ý nghĩa: Thí nguyện có nghĩa là cho phép được toại nguyện, biểu thị sự dâng hiến, từ thiện, cho đi, lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực. Ngoài ra cũng được hiểu là đón tiếp, dâng hiến, biếu tặng. Đây là ấn quyết biểu hiện gọi trời, chứng minh cho tấm lòng Đức Phật thể hiện quyết tâm hoàn thành ước nguyện chân tâm giải thoát cho toàn bộ nhân loại.

5. Vô úy thủ ấn (Abhaya Mudra)

Vô úy thủ ấn

Ý nghĩa các tư thế tay tượng Phật – Vô úy thủ ấn

– Tư thế tay: Bàn tay phải của Đức Phật giơ lên ngang tầm ngực, cánh tay gập lại, gan bàn tay hướng về phía trước, những ngón tay dính nhau, hướng lên trên. Cánh tay trái thả lỏng để xuôi theo tư thế tọa thiền đối với tượng ngồi. Trường hợp tượng đứng thì tay trái duỗi hướng xuống đất.
Trong các trường phái phương Nam, ở Thái Lan và nhất là ở Lào, Vô úy ấn thường liên kết với điệu bộ của Đức Phật đứng.

Ở Đông Nam Á, thường thấy một thay đổi là cả hai tay đều giơ lên hai bên ngực hay ít hơn, tay mặt như trên nhưng giơ lên ngang đầu. Ở Nhật Bản, nhiều tu sĩ nhận xét có khi ngón cả tay mặt được nâng lên phía trước.

– Ý nghĩa: Abhaya nghĩa là không sợ hãi. Tư thế này nói lên thái độ không sợ hãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh nào cả. Hay diễn giải theo một cách rộng hơn nghĩa là Đức Phật ngay sau khi đạt được giác ngộ đã vượt thoát trên mọi nỗi sợ hãi và đau khổ của nhân gian. Ngoài ra, ấn này muốn biểu lộ yên vui, nhân từ, bảo vệ.

Trong cuộc đời đức Phật có giải thích về nguồn gốc của ấn này khi Ngài đứng trước một con voi hung dữ liền giơ tay như ấn quyết này để cản lại voi, như vậy, ấn không chỉ có ý nghĩa làm dịu mà còn gợi lên ý tưởng không sợ, đem lại yên tĩnh cho những người xung quanh.

Abhaya là cử chỉ của sự không sợ hãi. Khi bàn tay Phật thể hiện thủ ấn này cho thấy Đức Phật không hề sợ hãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh. Cũng như thể hiện rằng Đức Phật ngay sau khi đạt được giác ngộ đã vượt thoát trên mọi nỗi sợ hãi đau khổ của thế gian.

6. Xúc địa thủ ấn (Bhumistarsa Mudra)

Xúc địa thủ ấn

– Tư thế tay: Đây là tư thế khi Đức Phật ngồi kiết già hoặc bán già với tay trái đặt trên đùi trái, gan bàn tay hướng lên trên như trong ấn Thiền Định. Tay phải đặt lên đầu gối phải, tay duỗi xuống chạm đất, lòng bàn tay xoay vào bên trong, mu bàn tay đưa ra ngoài.

– Ý nghĩa:  Ý nghĩa của thủ ấn này là một lòng tin và quyết tâm không lay chuyển được và còn biểu thị công năng không chịu khuất phục, làm cho các thế lực yêu ma phải đầu hàng. Đây cũng là ấn quyết mà đức Thích Ca gọi Trái Đất chứng minh mình đạt Phật quả.

Dưới gốc cây bồ đề, Đức Phật quyết ngồi cho đến lúc tìm ra được phương cách hủy bỏ mọi đau đớn trên đời này nên khi đạt đến đích, Ngài viện đất làm chứng những công đức mà Ngài đã tích lũy từ nhiều tiền thân.
Bhumisparsha, có nghĩa là “chạm vào Trái Đất”, hay gọi Trái Đất để chứng kiến. Thủ ấn này gợi nhớ lại hình ảnh khi Ngài ngồi hành thiền trong đêm rằm tháng Vesak, Ma vương (Mara) xuất hiện quấy nhiễu Ngài.

Ma vương có ý định đuổi Ngài ra khỏi chỗ ngồi dưới cội bồ đề và hỏi: “Ai là chứng nhân để biết chỗ ngồi này là của Ngài?” Đức Phật từ tư thế thiền định, đặt bàn tay phải chạm đất và tuyên bố: “Mặt đất này là chứng nhân, đã chứng kiến qua nhiều kiếp, ta đã hoàn thiện hạnh Bố thí ba-la-mật, hạnh Trì giới ba-la-mật, và các ba-la-mật khác.”

Khi được thỉnh cầu, đất đã gửi một đạo quân thiên thần để diệt trừ những quỷ sứ của Mara và cũng theo thuyết đó, xúc địa ấn còn có nghĩa là ấn hàng ma phục quỷ. Ma vương run sợ, thất bại, và rút lui.

7. Chuyển pháp luân thủ ấn (Dharmachakra Mudra)

Chuyển pháp luân thủ ấn

– Tư thế tay: Đức Phật đưa hai tay lên ngang ngực, gan tay trái hướng ra trước, gan tay mặt hướng lên trên, những ngón tay xòe ra. Đầu ngón tay giữa trên một bàn tay này của Đức Phật, chạm vào đầu ngón tay cái và ngón trỏ của bàn tay kia, tạo thành vòng tròn bí ẩn gần tim. Ấn quyết này nhiều nơi được thay đổi ít nhiều. Ở Ấn Độ, hai tay xa nhau và các ngón không đụng nhau.

– Ý nghĩa: Hai tay của Ngài làm thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Thủ ấn này biểu thị dòng năng lượng liên tục của vũ trụ dưới dạng luân xa (bánh xe) và các giáo lí của nó được thông qua trái tim. Đức Phật được xem như Đức Chuyển Luân Vương, chúa tể một thế lực toàn năng, đang quay bánh xe mặt trời, vận dụng giáo huấn trong sáng làm tiêu tan mọi bóng tối của ngu muội.

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *